1. Mẫu đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Luật LVN Group giới thiệu và cung cấp mẫu đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn mới nhất theo quy định của luật hôn nhân và luật tố tụng dân sự để quý khách hàng tham khảo và áp dụng trên thực tiễn, mọi vướng mắc hãy gọi 1900.0191 để dược tư vấn, hỗ trợ:

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————-

 

ĐƠN ĐỀ NGHỊ THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN

 

Kính gửi: Tòa án nhân dân quận /huyện

Tên tôi là:……………………………….. Sinh năm: …………………….

Nghề nghiệp:………………………………………………………………….

Hộ khẩu thường trú:…………………………………………………………

Tạm trú:…………………………………………………………………………

Điện thoại liên hệ:…………………………………………………………..

Tại bản án, quyết định:……………………………………………………

tại:……………………………………… ngày…tháng…năm…………….

của Tòa án nhân dân……………………………………………………….

Về phần con chung:…………………………………………………………

……………………………………………………………………………………..

Hiên con chung đang ở với anh (chị)…………………………………

là…………………………………………………… trực tiếp nuôi dưỡng

Hộ khẩu thường trú:…………………………………………………………

Tạm trú:…………………………………………………………………………..

Điện thoại liên hệ:……………………………………………………………

Nhưng nay do hoàn cảnh của tôi:……………………………………..

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………….

Tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được trực tiếp nuôi con chung là:…..

……………., ngày……tháng……năm 200…
Người làm đơn
(Ký và ghi rõ họ tên)

 

2. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

“Trong hai năm qua, những lúc bé ốm đau, bệnh tật thì anh ấy ở đâu? Chẳng lẽ, tôi làm công nhân vệ sinh thì không có quyền làm mẹ sao?”. Bức xúc của chị Nguyễn Thị Lan (Q.7) cũng là của đa số người dự khán phiên tòa xét xử thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại tòa án Q.7. Một câu hỏi lớn đặt ra: liệu có điều gì khuất tất trong phiên tòa này ?

Sáng 21/5, TAND Q.7, TP.HCM đã mở phiên tòa xét xử vụ kiện “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Thuận (SN 1980 ở P.10, Q. Gò Vấp) và bị đơn là chị Nguyễn Thị Lan (SN 1979 ở P. Bình Thuận, Q.7). Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuyên án: giao bé Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 2003, cho anh Thuận nuôi dưỡng.

Ngay sau bản án được tuyên, chị Lan đã òa khóc, cho rằng bản án không công bằng. Bức xúc của chị được những người dự khán phiên tòa đồng cảm, chia sẻ.

Chị Lan và anh Thuận kết hôn năm 2003, đến giữa năm 2007 thì cả hai thuận tình ly hôn. Hai bên thỏa thuận, chị Lan được quyền nuôi con và anh Thuận trợ cấp 300.000đ/tháng. Tuy nhiên, sau đó anh Thuận không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Để có tiền nuôi con, chị Lan đã nhận trông coi nhà vệ sinh công cộng tại BV Từ Dũ từ 7g sáng đến 9g tối. Hàng ngày, 6g30 chị thức dậy đưa con đi học rồi đi làm. Đến 4h, chị đón con và đưa bé đi học chữ. Sau đó, chị rước bé về chỗ làm (có một phòng riêng sinh hoạt) để bé nghỉ ngơi, xem hoạt hình và 9h hai mẹ con cùng về nhà.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoạigọi:1900.0191

Theo chị Lan, suốt hai năm chị nuôi bé Trí, anh Thuận không một lần đến thăm. Dù vậy, mỗi cuối tuần (chiều thứ sáu) chị Lan đều cho con về nhà nội chơi. Nhưng ngày 21/11/2008, khi chị đến rước con thì gia đình anh Thuận không cho. Chị Lan đã đến nhà anh Thuận nhiều lần và làm đơn gửi chính quyền địa phương, cơ quan thi hành án để xin thi hành án giao con, nhưng vẫn chưa được nhận con.

Anh Thuận cũng gửi đơn ra tòa án xin thay đổi quyền nuôi con. Anh cho rằng, chị Lan không đủ điều kiện nuôi con, do chị sống nhà thuê; hay chở bé Trí đi chơi đến 11-12h khuya, cho bé nghỉ ngơi trong khu nhà vệ sinh sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bé. Tại phiên xử, chị Lan đã chứng minh: thu nhập của chị một tháng là 4,5 triệu đồng (chưa kể thu nhập mua bán bánh, kẹo, thuốc lá…), chị đủ điều kiện lo cuộc sống của hai mẹ con. Thậm chí, chị còn mướn người phụ việc để có nhiều thời gian dành cho con hơn.

Nhưng những minh chứng của người mẹ đã bị tòa bác, còn lời khai, yêu cầu của anh Thuận lại được chấp nhận, dù có phần vô lý. Cụ thể, anh Thuận cho rằng chị Lan thường xuyên đi xem đua xe với người yêu và chở bé Trí theo. Anh đưa ra bốn nhân chứng, nói rằng thấy chị Lan đi chơi nhưng không hề có chứng cứ rõ ràng hay xác định ngày tháng. Vậy mà, đây được xem là một trong những lý do để tòa tước quyền nuôi con của chị Lan. Hội đồng xét xử còn “hợp thức hóa” lời khai này bằng nhận định: điều này (việc chị Lan đưa con đi chơi khuya) phù hợp với lời khai của chị Lan ngay tại phiên tòa: khi vào cuối tuần đi rước con về, chị ghé công viên cho con chơi đến 9h30!

Tòa cũng cho rằng, theo hợp đồng lao động, chị Lan phải làm việc từ 5g đến 21g, nên không đủ thời gian chăm sóc con. Dù trên thực tế, chị có thuê người phụ việc và chính chị đưa con đi học. Trong khi anh Thuận khai vừa mua bán cơm tấm, vừa làm tài xế – nhưng tòa không hề hỏi xem anh làm việc một ngày bao nhiêu giờ, có thời gian để chăm con? (Chị Lan cho rằng anh Thuận đi suốt, giao phó con cho ông bà nội. Còn bà nội cũng phải mua bán từ 4h chiều đến tối). Ngoài ra, còn một lý do tòa chấp thuận yêu cầu của anh Thuận là vì chính quyền địa phương (P.10, Q.Gò Vấp) đã xác nhận anh Thuận có nghề nghiệp ổn định, gia đình khá giả, chăm sóc con tốt và cháu bé đang đi học ở nhóm trẻ gia đình, cuộc sống ổn định. Để công bằng và thuyết phục, tại sao tòa chỉ yêu cầu xác minh phía gia đình anh Thuận, mà không yêu cầu chính quyền địa phương nơi chị Lan sinh sống, xác minh xem chị chăm sóc con tốt không, có ngược đãi, bỏ rơi con không?

Trong phần xét hỏi, thẩm phán Lê Thanh Phong – chủ tọa phiên tòa hỏi chị Lan: “Anh chị đều cho rằng mình thương con, vì con. Và chị nói trước đây anh Thuận không làm tròn vai trò người cha. Vậy bây giờ chị có thể cho anh Thuận một cơ hội để làm người cha tốt?”. Tại sao tòa không đặt câu hỏi đó với anh Thuận?

Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể như sau:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.”

Chị Lan bức xúc: “Tòa đã xử ép tôi, toàn hỏi những điều có lợi cho anh Thuận. Nếu anh Thuận thương con, trong hai năm tôi nuôi con, những lúc bé ốm đau, bệnh tật thì anh ấy đang ở đâu? Có biết nỗi khổ của một người mẹ một mình nuôi con? Chẳng lẽ, tôi làm công nhân vệ sinh, ở nhà thuê thì không có quyền làm mẹ sao?”. Bức xúc của chị Lan cũng là của đa số những người dự khán hôm đó. Một câu hỏi lớn được đặt ra ở đây: liệu có điều gì khuất tất trong phiên tòa này?

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

3. Thủ tục ly hôn khi chồng thất nghiệp, tụ tập ăn chơi ?

​Chào Luật sư của LVN Group, Tôi không biết tài sản do một mình tôi tạo ra dù trong thời kỳ hôn nhân mà chồng tôi không có sự đóng góp, anh thất nghiệp và tụ tập ăn chơi và tôi từng phải trả nợ cho chồng và như vậy tôi có phải chia tài sản khi ly hôn không, và tôi phải làm gì trong trường hợp này ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.0191

 

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về tài sản chung của vợ chồng

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Như vậy, theo quy định này tài sản chung của hai vợ chồng gồm tài sản vợ chồng cùng tạo lập chung trong thời kỳ hôn nhân, cùng được tặng cho chung, thừa kế chung. Những tài sản riêng của hai vợ chồng nhưng đã thỏa thuận và xác nhập tài sản riêng này vào khối tài sản riêng. Những tài sản mà không có căn cứ để chứng minh được là tài sản riêng của vợ, chồng thì sẽ được coi là tài sản chung.

Trong trường hợp này của chị thì chị có nêu rằng là chị tạo ra tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ mình chị đi làm còn chồng chị thì không làm gì mà chỉ tụ tập ăn chơi. Nếu như chị muốn khối tài sản này được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng chị muốn chứng minh được rằng đây là tài sản riêng của chị, chồng chị không có công sức đóng góp trong việc hình thành khối tài sản này.

Còn nếu như chị không thể chứng minh được rằng tài sản này do mình chị làm ra, chồng chị không hề có công sức đóng góp gì kể cả giúp chị làm các công việc nội trợ, chăm sóc con thì căn cứ vào khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2015 thì nếu như có tranh chấp thì Tòa án có thể sẽ xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng chị. Và khi ly hôn nếu như không chứng minh được công sức đóng góp thì sẽ chia được theo nguyên tắc chia đôi. Những quyết định tại Tòa sẽ phụ thuộc vào các bên chứng minh.

4. Con 3 tháng tuổi Vợ có thể thực hiện thủ tục ly hôn được không ?

Thưa Luật sư của LVN Group, Tôi có một vấn đề mong Luật sư của LVN Group giải đáp: Tôi đăng ký thường trú ở TP.Thái Bình, lấy vợ là người miền tây (Vĩnh Long) và đã chuyển khẩu và nhà chồng (Thái Bình), trong cuộc sống xảy ra “mẹ chồng nàng dâu” vợ tôi đã bế con về nhà mẹ ruột và không quay trở lại (hiện nay con tôi mới hơn 3 tháng tuổi).

Vợ tôi muốn ly hôn, vậy cho tôi hỏi nếu làm thủ tục ly hôn thì vợ tôi có phải trở lại Thái Bình không? hay làm tại Vĩnh Long?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật LVN Group.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người thư: Thái TN

Trả lời:

Để biết được việc vợ bạn có phải trở lại Thái Bình để thực hiện thủ tục ly hôn hay không ? Thì trước tiên, cần phải xác định được tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án ly hôn của vợ chồng bạn.

Thứ nhất, thẩm quyền theo chung:

Theo quy định tại điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, thì:

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

Căn cứ khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tthẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Như vậy, trường hợp này vợ của bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú, làm việc.

Ngoài ra, căn cứ điểm b khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Do vậy, vợ chồng bạn còn có thể tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng để giải quyết.

Từ đó, thấy rằng để thực hiện thủ tục ly hôn vợ của bạn có thể:

+ Gửi hồ sơ ly hôn lên tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh Thái Bình để giải quyế. t (nếu như đây là nơi làm việc và cư trú của bạn). Trường hợp bạn làm việc ở tỉnh khác thì vợ của bạn có thể gửi hồ sơ đến Tòa án cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mà bạn đang làm việc.

+ Hoặc vợ chồng bạn thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn Tòa án sẽ giải quyết ly hôn, sau khi thỏa thuận được thì gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mà vợ hoặc chồng đang cư trú hoặc làm việc.

Trân trọng cám ơn!

5. Không còn tình cảm có ly hôn được không ?

Chào Luật sư của LVN Group! Cháu muốn hỏi về cách thức xin ly dị. Bố mẹ cháu hiện nay đã không còn tình cảm và thường xuyên xảy ra xích mích vậy nên mong bên mình tư vấn cho cháu các thủ tục cũng như các bước cần thiết để làm thủ tục ly hôn cũng như chia tài sản ?
Cháu xin cảm ơn và mong nhận được hồi âm.

Luật sư tư vấn:

Do bạn không nói rõ bố mẹ bạn muốn ly hôn đơn phương hay ly hôn thuận tình do đó chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định về trường hợp ly hôn thuận tình:

“Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”

Như vậy, nếu bố mẹ bạn thật sự tự nguyện ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho bố mẹ bạn ly hôn.

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trường hợp ly hôn đơn phương:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”

Như vậy, bố hoặc mẹ bạn hoàn toàn có quyền ly hôn đơn phương nếu bố hoặc mẹ bạn có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về vấn đề tài sản: Nếu bố, mẹ bạ đã thỏa thuận được về vấn đề tài sản thì Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận đó, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết. Theo nguyên tắc thì tài sản riêng của ai sẽ thuộc về người đó, tài sản chung sẽ được chia theo nguyên tắc chia đôi. Cụ thể:

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

>> Bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Tư vấn xin ly hôn, chia tài sản và nuôi con?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư của LVN Group tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0191 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật LVN Group. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.